Skinaz Việt Nam Tuyển Đại Lý Toàn Quốc

Đề thi thử đại học khối C môn Văn 2014

gaubaccuc.it

adminQuản trị viên
Đề thi thử đại học khối C môn Văn 2014
ĐỀ THI THỬ SỐ 1
Môn: Ngữ Văn
Thời gian làm bài: 180ph

A. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu I(2,0 điểm)
Nêu những nét chính phong cách nghệ thuật Nam Cao.
Câu II(3,0 điểm)
Anh/chị hiểu như thế nào về hạnh phúc gia đình?

B. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận.
Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)
Phân tích tư tưởng"Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại” được thể
hiện trong đoạn thơ sau:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết “yêu em từ thưở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu "

(Trích Đất Nước –Nguyễn Khoa Điềm, SGK Ngữ văn 12 –tập một, NXB Giáo dục 2008)
---------- Hết ----------
Đáp án: Tuần đâu tiên sau kì nghỉ tết 2014 sẽ công bố.

Tham gia group face "Luyện thi đại học môn Hóa - Chủ kiến thức" để cùng trao đổi và giải đáp đề thi này nhé. Thời gian giải đáp đã cập nhật trên Group
Còn rất nhiều các tài liệu học tập hay khác mà Chủ kiến thức đã và đang chia sẻ. Các bạn chú ý cập nhật nhé, nếu thấy hay thì like và chia sẻ cho mọi người để mọi người cũng tiếp cận được các tài liệu học tập hay mà lại miễn phí nhé các bạn!

Facebook:
- Hiệp Lại: https://www.facebook.com/lvh.ml
- Không Giới Hạn:https://www.facebook.com/vnd365.viet2807
Gmail: chukienthuc.com@gmail.com

Hãy tham gia các Group và Page Facebook Luyện thi đại học giao lưu học tập, luyện thi và cùng chia sẻ vì sự phát triển chung.
PAGE FACEBOOK:
1. Luyện thi đại học - Chủ kiến thức

https://www.facebook.com/LuyenThiDaiHoc.ChuKienThuc
2. Kênh giải trí của Chukienthuc.com - Thư viện tài liệu trực tuyến
https://www.facebook.com/vnd365

GROUP FACEBOOK:
1. Luyện thi đại học môn Sinh - Chủ kiến thức

https://www.facebook.com/groups/luyenthidaihocmonsinh.chukienthuc/
2. Luyện thi đại học môn Toán - Chủ kiến thức
https://www.facebook.com/groups/luyenthidaihocmontoan.chukienthuc/
3. Luyện thi đại học môn Tiếng Anh - Chủ kiến thức
https://www.facebook.com/groups/luyenthidaihocmontienganh.chukienthuc/
4. Luyện thi đại học môn Lý - Chủ kiến thức
https://www.facebook.com/groups/luyenthidaihocmonly.chukienthuc/
5. Luyện thi đại học môn Hóa - Chủ kiến thức
https://www.facebook.com/groups/luyenthidaihocmonhoa.chukienthuc/
6. Luyện thi đại học khối C - Chủ kiến thức
https://www.facebook.com/groups/luyenthidaihockhoic.chukienthuc/
7. Kênh tư vấn mùa thi của chukienthuc.com - Thư viện tài liệu trực tuyến
https://www.facebook.com/groups/tuvanmuathi.vnd365/
8. Hội những người yêu thích khối C
https://www.facebook.com/groups/HoinhungnguoiyeukhoiC/
Chúc các bạn học tập tốt! thành công trên con đường mà các bạn đang và sẽ đi.

---------------Chủ kiến thức luôn đồng hành cùng các bạn----------------
 
Last edited:

nhuquynh96

memThành viên
Bài này đã được share trên group rồi. Đưa mọi ngưởi để tham khảo nhé!

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC TỪNG PHẦN THÁNG 1
MÔN: NGỮ VĂN
I.PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Nêu quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh.
Câu 2(3,0 điểm):
Theo anh/chị thế nào là thành công?
II. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm):
Thí sinh chỉđược làm một trong hai câu của phần riêng (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a (5,0 điểm):
Phân tích tư tưởng nhân đạo của Nam Cao qua truyện ngắn "Chí Phèo".
Câu 3.b (5,0 điểm):
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ (Trích “Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài).
---------Hết---------


Đáp án đây nhé mọi người!
https://drive.google.com/file/d/0B8nhDobL9_fqa0h4NVZ4X2RRVHc/edit?usp=sharing
 

nhuquynh96

memThành viên

ĐỀ THI THỬ ĐẠI HỌC TỪNG PHẦN 2014 – THÁNG 1
MÔN: NGỮ VĂN

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
Giải thích ngắn gọn ý nghĩa lời đề từ vở kịch Vũ Như Tô của
Nguyễn Huy Tưởng
Câu 2 (3 điểm)
Người mình thì phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường bị người gặp tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không can thiệp gì đến mình.”
( Phan Châu Trinh – Đạo đức và luân lý Đông Tây (1925); dẫn theo sách Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 100).
Vì sao có thể nói rằng đoạn trích trên cho đến ngày nay vẫn còn mang tính thời sự?

PHẦN RIÊNG (5 điểm)
Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc câu 3.b)
Câu 3.a. Theo chương trình Chuẩn (5 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về cảnh sắc thiên nhiên sông Hương qua bài kí "Ai đã đặt tên cho dòng sông" của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Câu 3.b. Theo chương trình Nâng cao (5 điểm)
Chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam qua tác phẩm "Hai đứa trẻ".
---------------Hết-------------------

Dàn gợi ý này!

https://drive.google.com/file/d/0B8nhDobL9_fqNFVTOHdkNFZaZmM/edit?usp=sharing
 

nhuquynh96

memThành viên
ĐỀ THI THỬ SỐ 2.

Môn: Ngữ Văn

Thời gian làm bài: 180 phút

A. PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (5,0 điểm)

Câu I(2,0 điểm)

Tư tưởng bao trùm lên toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu là gì? Anh/ chị hãy trình bày vắn tắt những biểu hiện của tư tưởng ấy trong sự nghiệp sáng tác của ông?

Câu II(3,0 điểm)

Từ bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến, anh (chị) hãy viết bài văn bàn về danh và thực trong cuộc sống hiện nay.

B. PHẦN RIÊNG (5,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu III.a hoặc III.b)

Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)

Qua bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh “đã thể hiện được một tình yêu có tính chất
truyền thống như tình yêu muôn đời nhưng vẫn mang tính chất hiện đại như tình yêu hôm nay” ( Hà Minh Đức)

Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh để làm rõ ý kiến trên

Câu III.b. Theo chương trình Nâng cao (5,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: Chí Phèo là người nông dân chẳng những bịtước đoạt nhân hình, nhân tính mà bi thảm hơn, Chí Phèo muốn trở lại làm người mà không được.

Từ cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

P.S: Đáp án sẽ được đăng sau 1 tuần (CN 2/3/2014)
 

nhuquynh96

memThành viên
Đề số 3.

I.PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH: (5,0 điểm)

Câu 1: (2 điểm)
Nêu các đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám.
Câu 2. (3 điểm)
Viết bài văn ngắn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về tình phụ tử.

II. PHẦN RIÊNG (THÍ SINH CHỈ CHỌN LÀM 3A HOẶC 3B )
Câu 3a. Theo chương trình chuẩn (5,0 Điểm):
Trong chuyện những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi có nêu lên quan niệm: “Chuyện gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, mà biển thì rộng lắm..., rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta".
Anh/chị có cho rằng trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau : chị em Chiến và Việt.

Câu 3b. Theo chương trình nâng cao (5,0 Điểm):

Phân tích những nét đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của bà Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.
(Một người Hà Nội –Nguyễn Khải)


---------- HẾT----------

DÀN BÀI GỢI Ý

Câu:1

Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao thường viết về hai đề tài chính:
Viết về trí thức nghèo, Nam Cao miêu tả những bi kịch tinh thần của họ, có tài, nhiều hoài bão cao đẹp nhưng bị cuộc sống áo cơm ghì sát đất phải “chết mòn” về tinh thần. Đó là những “giáo khổ trường tư” trongSống mòn luôn đối phó với cảnh thất nghiệp. Những văn sĩ muốn xây dựng một sự nghiệp văn chương chân chính và nổi tiếng nhưng không có điều kiện thực hiện (Giăng sáng, Đời thừa…).
Viết về người nông dân nghèo, Nam Cao chú ý miêu tả sự nghèo khó, bất công trong xã hội. Nhiều người vẫn giữ được phẩm chất trong sạch của mình, dù khổ đau, túng quẫn (Lão Hạc, Dì Hảo, Một đám cưới…). Nhưng cũng có một số nông dân bị tha hóa về nhân cách, bị dân làng khinh bỉ, căm ghét (Chí Phèo, Tư Cách Mõ, Nửa đêm…). Dù viết về đề tài nào, Nam Cao đều đặt ra vấn đề nhân cách con người trong hoàn cảnh khó khăn.
Câu 2
Những ý cần đạt

Do yêu cầu đề mở nên học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, cơ bản bài làm trong sáng rõ ràng, đạt được các ý sau:
Giới thiệu về một người thương yêu nhất
Tình cảm, suy nghĩ cuả mình đối với người thân yêu đó.
Bài học cho cuộc sống rút ra từ người thân của mình.
Bài văn tham khảo
Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.
Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng.
Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.
Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?
Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.
Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.
Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.
Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật.
Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.

Bài làm của Nguyễn Thị Hậu
(Lớp 10A2, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh, Nghệ An
Câu 3a
Những ý cần đạt

- Giới thiệu được tác giả, tác phẩm
- Phân tích, chứng minh được những “khúc sông” được tiếp nối trong truyện:
+ Những người tạo dựng “khúc sông” truyền thống gia đình là má Việt, chú Năm và những người đi trước, họ có những điểm chung về lòng kiên trung cách mạng.
+ Những “khúc sông” sau như Chiến Việt, tiếp nối truyền thống gia đình, “khúc sông” sau bao giờ cũng chảy xa hơn khúc sông trước.
+ Truyện giàu chất sử thi, chất nam bộ thể hiện khá đậm nét.
Bài làm tham khảo
“Dòng sông” trong Những đứa con trong gia đình không chỉ là dòng sông đẹp, lắm nước ngọt, nhiều phù sa và sinh ra vườn ruộng mát mẻ mà còn là dòng sông của truyền thống gia đình liên tục chảy từ lớp người đi trước. Cũng như trăm con sông khác, “con sông” này cũng chảy ra biển, “mà biển thì rộng lắm, rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta”.
Trong thiên truyện của mình, Nguyễn Thi đã xây dựng nên một dòng sông chảy dài xuyên suốt. Đó là dòng sông của gia đình chị em Chiến Việt mà mỗi thế hệ là một “khúc” của dòng sông để rồi tất cả đều được ghi vào đó. Những đứa con trong gia đình là sự tiếp nối huyết thống từ bao đời, nhưng không dừng lại ở đây, mỗi thế hệ còn là cầu nối của truyền thồng vĩ đại - truyền thống chống giặc ngoại xâm từ tổ tiên, ông cha và cho đến đời của chị em Chiến Việt. Con sông ấy cứ chảy qua bao thế hệ mà chính chú Năm lại là kết tinh của “con sông truyền thống”.
Từ lâu, chú Năm gắn bó với vùng sông nước Bến Tre, mưu sinh từ những con sông, con nước. Nhưng bật lên trong con người chú là một tâm hồn nhơn nghĩa, đạo lí. Cái đạo lí của một ông già Nam Bộ chất phác, rạch ròi nhưng rất cảm động được thể hiện qua những ước vọng của chú: “Rán cho mau lớn. Chừng nào bay trọng trọng rồi tao giao cuốn sổ cho chị em bay”. Ước mong của chú là vậy, mong cho chị em Chiến Việt mau lớn để giao lại cuốn sổ gia đình cũng chính là cả “con sông” truyền thống. Ông già Nam bộ này còn răn đe: “Thù cha thù mẹ chưa trả mà bỏ về là chú chặt đầu…”. Lời răn yêu ấy cũng chính là tâm nguyện của chú gửi đến khúc hạ lưu của dòng sông với lòng yêu thương vô bờ. Chú Năm như một cuốn gia phả sống, ghi chép tất cả những câu chuyện của gia đình với những nét chữ lọng cọng. Những sự việc trong cuốn sổ truyền thống chính là những nỗi đau và niềm tự hào của gia đình. Thật cảm động khi đọc những câu chuyện: “Thím Năm bơi xuồng rọc lá chuối bị cano Mỏ cày bắn bể xuồng... Ông nội nghe súng nổ, sợ bò đứt day ra năm giàm bò, bị lính Tổng phòng… bắn giữa bụng… tía Việt bị lính Tây Kinh Ngang bắt chặt đầu…”. Những câu chuyện của gia đình xét cho cùng là bản tố cáo tội ác của bọn giặc Tây mà Nguyễn Thi gián tiếp viết ra.
Song song với hình ảnh chú Năm – ông già Nam Bộ với tính tình chấc phác, thiệt thà, luôn sống và hướng đến truyền thống, ta lại bắt gặp hình ảnh của mẹ Việt, người mẹ Nam Bộ và rất Nam Bộ. Mẹ Việt cũng là một khúc sông chảy cùng vị trí với “khúc sông chú Năm trong con sông lớn của gia đình. Mẹ Việt hiện lên là người phụ nữ chịu thương, chịu khó sực mùi “lúa gạo và mùi mồ hôi” đến nỗi “lưng áo bà ba đẫm mồ hôi và đen lại”. Dường như mẹ Việt sinh ra là để nuôi con, để đánh giặc. Bản tính của người phụ nữ Nam Bộ đôi khi cọc cằn nhưng hiền dịu, gan lì với giặc nhưng lại hết mực chiều chuộng, yêu thương con cái của mình. Mẹ Việt còn “thừa hưởng”cái gọi là “dạn” từ ba Việt nữa. Chồng bị chặt đầu, mẹ Việt cắp rổ đi đòi, tay thì bế thằng Út và theo sau là lũ con nhỏ và “mỗi lần địch bắn đùng đùng trên đầu… lòng dạ đâu còn rảnh mà để sợ, mà khóc, chỉ thương con thôi”. Mẹ Việt yêu thương con hết mực, luôn chăm chút từng miếng ăn cho con cái đến cả những cách con làm cứ như phù sa sông bồi đắp vào bãi ngày này qua ngày nọ, năm này qua tháng nọ vậy. Với hình ảnh của mẹ Việt, ta dễ dàng liên tưởng đến nét kiên cường của chị Út Tịch (người mẹ cầm súng), tình yêu thương chồng con của chị Dậu và cả sự đấu tranh kiên cường, cứng cõi của Chị Sứ,… Nói cách khác, mẹ Việt là con sông phản chiếu của những người phụ nữ thời chiến: “kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Quả là khúc sông thật cao cả và chảy dài mạnh mẽ…
Nếu so với khúc sông trước, mẹ- chú Năm, thì Chiến và Việt là hai khúc sông sau, mà khúc sông sau thì lúc nào cũng chảy xa hơn khúc sông trước, cứ như vậy, nối tiếp nhau mà chảy. Ở chị Chiến có cái gì “in như mẹ vậy” từ vẻ bề ngoài chắc nịch đến cả cái gáy đỏ, bắp tay to khỏe nửa,… và còn đến cả lời nói, cử chỉ và sự suy tính ra dáng của một người trưởng thành, chu toàn, êm đẹp… bên cạnh đó, khúc sông Việt tuy có nhỏ hơn khúc sông Chiến, vẫn còn nét lộc ngộc, vô tư của một thanh niên mới lớn, nhưng trong Việt đã chứa đựng chất anh hùng biểu hiện ở những suy nghĩ táo bạo của mình. Lúc bị thương nặng, Việt vẫn cố gắng lên nòng súng sẵn sàng chiến đấu, cả những suy nghĩ của Việt, ta lại thấy một người lính rất chững chạc: “Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao”. Quả thật, khúc sông Chiến-Việt đã chảy xa hơn đại diện cho sức trẻ tiến công. Trong khi mẹ Việt mang nỗi đau mất chồng và chưa thể cầm súng để trà thù thì chiến và Việt lại cầm súng vì nỗi đau mất cha mất mẹ quyết tòng quân đánh giặc. Có thể nói, khúc sông Chiến-Việt là khúc sông nhận lưu lượng nhiều hơn, chảy mạnh hơn và xa hơn những khúc sông trước đó vì 2 khúc sông này là cả hy vọng của một gia đình truyền thống bao thế hệ.
Những khúc sông của gia đình cứ như thế nối tiếp nhau chảy, chảy hoài, chảy mãi như máu chảy trong người vậy. Rồi con sông của gia đình lại chảy về biển cũng như trăm con sông khác. Nguyễn Thi đã buộc ta phải liên tưởng đến biển đến đại dương bao la rộng lớn. Biển ấy là biển của cách mạng cả nước mênh mông, rộng lớn và vĩnh cữu. Còn đại dương ấy chính là đại dương cách mạng của những quốc gia đang bị xâm lược trên thế giới. Cũng như dòng chảy của máu trong cơ thể được lưu thông bằng tim, thì dòng chảy của con sông cách mạng được khơi nguồn và duy trì bằng những con tim cách mạng “còn nóng hôi hổi” chứa những sự mất mát đau thương nhưng lại rạng ngời niềm hy vọng.
Câu 3 b
Những ý cần đạt

- Vẻ đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của bà Hiền:
+ Sự tự ý thức và trách nhiệm đối với bản thân.
+ Đúng mực trong cách đối xử với thời cuộc, xã hội.
+Trong việc quản lí gia đình.
+ Với những giá trị chuẩn mực của cuộc sống.
- Bà Hiền là người tiêu biểu cho người phụ nữ Hà thành nói chung.
Bài văn tham khảo:
Cũng khám phá con người ở phương diện đời tư như nhiều nhà văn sau 1975 nhưng với Nguyễn Khải khám phá những vẻ đẹp của tâm con hồn người trong đời sống thường nhật chính là một sứ mệnh cao cả mà nhà văn phải thực hiện. Với truyện ngắn Một người Hà Nội, nhà văn đã cho người đọc chiêm ngưỡng những nét đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của nhân vật bà Hiền.
Vẻ đẹp trong suy nghĩ và ứng xử của nhân vật bà Hiền trước hết bộc lộ trong sự tự ý thức và trách nhiệm đối với bản thân. Thời trẻ, bà mở salon văn chương nhưng không phải để kiếm anh chồng một mai sẽ thành quan đốc, quan trạng. Đến khi lấy chồng, bà quyết định chọn ông giáo tiểu học hiền lành, chăm chỉ. Khi làm mẹ, bà sáng suốt khi quyết định chấm dứt sinh đẻ vào năm bốn mươi tuổi với sự tính toán kĩ lưỡng: nếu ông và tôi sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, không phải sống bám vào các anh chị. Suy nghĩ ấy sẽ định hướng cho cách ứng xử đúng đắn với bản thân ở nhân vật.
Có ý thức trách nhiệm với bản thân nên mọi cách ăn mặc, nói năng ở bà Hiền đều rất chuẩn mực, lịch thiệp, có văn hóa. Bà không thích xưng hô đánh đồng kiểu “đồng chí” thời chiến. Và bất luận thời đại nào có làm con người nhếch nhác thì bà Hiền và gia đình vẫn giữ nếp sống văn hóa: Mùa đông ông mặc áo ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo măng-tô cổ lông, đi giay nhung đính hạt cườm. Lại cái ăn cũng không giống với số đông. Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ,bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản và từng người ngồi đúng chỗ đã quy định.
Không chỉ đúng mực trong cách đối xử với bản thân, với thời cuộc, xã hội, bà Hiền luôn có cách suy nghĩ, ứng xử phù hợp.
Thời chiến tranh, những người con trai của bà tình nguyện ra trận. Bà thẳng thắn thừa nhận: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hy sinh của bạn bè”. Nhà văn công tâm không giấu giếm sự đau đớn của bà Hiền. Nó là tâm tư chân thực nhất của bất kì bà mẹ nào có con ra trận. Thái độ bằng lòng của bà xuất phát từ lòng tự trọng, từ ý thức trách nhiệm của một công dân đối với vận mệnh của đất nước, của dân tộc, vậy nên khi người con thứ hai làm đơn ra trận, bà vẫn không ngăn cản. Mọi suy nghĩ của bà Hiền đều rất công bằng: “Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”.
Khi người con trai thứ hai may mắn đỗ đại học với số điểm cao, được giữ lại trường, bà cẩn trọng phân tích: “Hiện tạ thì nó may hơn anh, nhưng nếu anh nó còn sống thì chưa biết đứa nào may hơn”. Không phải nhân vật của Nguyễn Khải quá hoài nghi cuộc sống. Đơn giản đó là những suy nghĩ thận trọng của con người sống trong xã hội nhiều biến động. Bà Hiền luôn giữ cho mình phong thái chủ động, tỉnh táo đủ để nhận thức và ứng xử phù hợp với thời cuộc.
Đất nước độc lập, bà Hiền đủ thông minh, nhạy bén để nhận thấy một số tồn tại trong xã hội mới. Bà nhìn thấy sự can thiệp của chính phủ vào đời sống nhân dân, nhận thấy khoảng cách giai cấp chưa được khỏa lấp. Một người phụ nữ lại có thể phân tích cho chồng hiểu một cách đúng đắn, thấu đáo tình thế của mình khi chồng có ý định mua máy in: “Ông sẽ phải thuê thợ chứ gì. Đã có thợ thì tất có chủ, ông muốn làm ông chủ dưới chế độ này à?”. Vẫn có những cán bộ nhà nước lặng lẽ quan sát mọi hành động của gia đình bà nhưng bà không lúng túng, lo sợ bởi bà đã chủ động lựa chọn một thái độ ứng xử đúng mực. Bà còn hài hước khẳng định mình chưa đủ tiêu chuẩn để phải học tập, cải tạo. Chi tiết người vú nuôigắt ầm lên: “Nếu họ không tử tế tôi đã xéo từ lâu rồi không cần anh phải xui” đã minh định cho lối sống hòa hợp của gia đình bà Hiền với xã hội, với thời cuộc.
Trong việc quản lí gia đình, bà Hiền luôn là nội tướng, chủ động trong mọi công việc. Mọi việc trong gia đình đều do bà Hiền toan liệu và không việc nào phải cân nhắc lại. Không mải vui trong chiến thắng của dân tộc, bà Hiền tự giác nghĩ đến chuyện làm ăn. Câu nói: “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ?” cho thấy nhân vật là người có trách nhiệm với cuộc sống của mình, nhạy bén, nhanh chóng thích ứng với thời cuộc. Sắc sảo nhận ra những bất cập của thời đại: Chế độ này không thích cá nhân làm giàu, chỉ cần họ đủ ăn, bà Hiền nhanh nhạy lựa chọn cho gia đình mình công việc phù hợp: bán hoa giấy. Làm hoa giấy không giàu nhưng cũng đủ ăn, lại nhàn nhưng cũng không lo lắng gì. Đây cũng là công việc có phần nhẹ nhàng, thanh nhã phù hợp với mọi người như bà Hiền. Nhưng những khó khăn người phụ nữ này phải đối mặt cũng không ít: “Tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không thể sống bám”. Những suy nghĩ đó cho thấy sự sắc sảo nỗi bật ở nhân vật.
Bảy mươi tuổi, ngày tết đến, bà Hiền vẫn lau đánh một cái bát thủy tiên men đỏ, hai cái đầu rồng gắn nổi bằng đồng, miệng chân cũng đều bằng đồng, thầm tiếc nuối: Dân Hà Nội nhảy tàu lên Lạng Sơn buôn bán đủ thứ mà lại không buôn được vài ngàncủ thủy tiên nhỉ? Ví thử có thủy tiên liệu còn có người biết gọt tỉa thủy tiên. Đó cũng là chính là cách ứng xử hết sứcvăn hóa ở con người luôn biết nhận thức những giá trị chuẩn mực của cuộc sống.
Những suy nghĩ là cách ứng xử với chính bản thân, với gia đình, với thời cuộc, xã hội cho thấy một tâm hồn hết sức cao đẹp trong nhân vật . Nó cho thấy sự am hiểu và lòng mến mộ của Nguyễn Khải đối với nhân vật của mình. Và xin được lấy những cảm xúc của nhà văn Nguyễn Khải để thể hiện lòng yêu mến của độc giả dành cho người phụ nữ Hà Nội này: Một người như cô phải chết đi thật tiếc quá, lại một hạt bụi vàngcủa Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng.

Theo TS Lê Anh Xuân
 

nhuquynh96

memThành viên
ĐỀ SỐ 4
I.PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH: (5,0 điểm)


Câu 1: (2 điểm)
Giới thiệu vài nét cơ bản về tác phẩm Thi nhân ViệtNam của Hoài Thanh và cho biết nội dung cốt lõi nhất của bài Một thời đại trong thi ca (đoạn trích trong SGK).
Câu 2. (3 điểm)
“Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. Ý kiến của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì vềviệc tu dưỡng và học tập của bản thân. (Bài viết không quá 600 chữ).

II. PHẦN RIÊNG (THÍ SINH CHỈ CHỌN LÀM 3A HOẶC 3B )
Câu 3a. Theo chương trình chuẩn (5,0 Điểm):
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao (đoạn từ khi gặp thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời).

Câu 3b. Theo chương trình nâng cao (5,0 Điểm):
Cảm nhận đoạn thơ sau trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo.
“Không ai chôn cất tiếng đàn
………….
Long lanh trong đáy giếng.”


(Đàn ghi ta của Lor - ca–Thanh Thảo, ngữ văn 12,
NXB giáo dục Việt Nam )


---------- HẾT----------


DÀN BÀI GỢI Ý


Câu 1.
Hoài Thanh là nhà phê bình văn học xuất sắc nhất trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm đỉnh cao của ông là tập phê bình Thi nhân Việt Nam, viết chung với Hoài Chân, do Nguyễn Đức Phiên xuất bản năm 1942. Nội dung của cuốn sách tổng kết những thành tựu của phong trào Thơ mới và giới thiệu các tác giả, tác phẩm tiêu biểu. Hoài Thanh theo lối phê bình ấn tượng, “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”, ngòi bút của ông tinh tế, tài hoa, hóm hỉnh.
Mở đầu Thi nhân Việt Nam là bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca. Đoạn trích trong sách giáo khoa thuộc phần cuối của bài viết này. Nội dung chính của đoạn trích là xác định “tinh thần thơ mới”, được triển khai thành ba ý nhỏ: trình bày nguyên tắc để minh định tinh thần của thơ cũ và thơ mới (không căn cứ vào cục bộcái dở mà căn cứ vào đại thểcái hay). Xác định tinh thần của thơ mới là chữ “tôi” đối lập với chữ “ta” vàcho thấy thái độ của xã hội khi ý thức cá nhân mới trỗi dậy. Chỉ ra sự vận động của cái “tôi” và việc giải quyết bi kịch thời đại của nó bằng cách “dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”.

Câu 2.
Những ý cần đạt

Nêu được nội dung câu nói: Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động.
Giair thích đức hạnh là gì, tại sao hành động lại là nơi chứa đựng mọi phẩm chất của đức hạnh:đức hạnh là những đức tính tốt của con người. Phẩm chấtlà những tính cách tốt của con người.
Làm thế nào để có được phẩm chất và đức hạnh. Đó có thể là những việc làm đơn giản hằng ngày.
Phân tích bình luận vấn đề. Nêu những mặt đúng, những mặt chưa đúng. Dẫn chứng một số trường hợp.
Trách nhiệm của học sinh, tuổi trẻ hom nay.

Bài văn tham khảo
Danh ngôn có câu: “Ý nghĩa là nụ hoa Lời nói là bông hoa, việc làm là quả ngọt”. Đúng như vậy, cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa như thế nào là tùy thuộc vào cáchthể hiện của mỗi con người. Một quan niệm có nội dung tương tự: “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. Vậy “đức hạnh” là gì. Và tại sao hành động lại là nơi chứa đựng mọi phẩm chất của đức hạnh.
Trước hết cần phải hiểu “đức hạnh” là những đức tính tốt đẹp của con người. “Phẩm chất” có thể hiểu nôm na là những tính cách, tính chất bên trong của con người. Nó có ý nghĩa không giống hoàn toàn với “hành động”,là những cử chỉ việc làm bên ngoài. Như vậy, ta có thể hiểu câu nói trên như là một lời nhân xét, một kinh nghiệm của M. Xi-xê-rông: những đức tính tốt đẹp của con người đều được thể hiện qua hành động. Nếu những cử chỉ và hành động của bạn là đúng, điều đó đồng nghĩa với việc bạn là người có nhân cách tốt, có đức hạnh. Ngược lại, nếu bạn có những cử chỉ, hành động không đẹp, thì có thể lắm bạn là một người chưa hoàn thiện về nhân cách, bạn còn cái lối sông ích kỉ, chỉ nghĩ cho riêng mình.
Nhiều người đã tự hỏi làm thế nào để có thể làm được như câu nói trên. Thật ra câu trả lời rất đơn giản. Bạn không cần phải làm những việc lớn lao hay hy sinh những thứ quí giá của mình thì mới gọi là nhưng cử chỉ, hành động đẹp. Mỗi buổi sáng đi học, bạn không sợ trễ học mà dắt một cụ già qua đường. Mỗi tháng, bạn gom góp báo cũ đem bán để ủng hộ quỹ vì người nghèo. Ở nhà, bạn quan tâm, giúp đỡ và chăm sóc cho những người thân của mình. Khi đến trường, bạn cố gắng học tập và cư xử lễ phép với thầy cô, quan tâm đến bạn bè. Tất cả những điều đó thể hiện bạn là một người có những đức tính tốt và cao đẹp.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt phải còn có những mặt trái của vấn đề. Đôi lúc, những hành động, cử chỉ đẹp lại không chứa đựng những đức tính tốt đẹp. Có những người làm những điều đó vì những mục đích không tốt, để qua mặt người khác. Lại cũng có những người không hề có những đức tính tốt đẹp, nhưng họ giả vờ có những cử chỉ hành động cao đẹp để chiếm lấy trái tim của người khác. Những việc làm của họ không nói lên họ là những người có đức tính tốt mà ngược lại họ còn làm cho người khác cảm thấy khinh bỉ và ghê tởm. Những con người đó rất đáng bị phê phán vì nếu cứ để họ tồn tại như vậy sẽ gây nên những tổn hại không đáng có cho người khác và cho xã hội.
Tóm lại, mỗi học sinh chúng ta phải cố gắng rèn luyện đạo đức và trau dồi kiến thức. Hãy nhìn mọi người bằng con mắt yêu thương, trìu mến. Bạn sẽ thấy cuộc sống tươi đẹp hơn và muốn hành động, cư xử đẹp hơn. Qua đó, bạn sẽ cảm nhận được những đức tính tốt đẹp của mình.

Câu 3a.
Những ý cần đạt

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần phân tích.
- Phân tích:
+ Hoàn cảnh gặp thị Nở trong cơn say
+ Trước hềt là sự thức tỉnh: khi tỉnh rượu, hắn cảm nhận về không gian, cuộc sống xung quanh, tình trạng của mình… sau đó hắn tỉnh ngộ, cảm nhận được tình yêu thương, sự chăm sóc của thị Nở.
+ Sau đó là hắn hy vọng, ước mơ lương thiện trở về, đặt niềm hy vọng lớn ở thị Nở. Hắn đã ngỏ lời với thị, trông đợi thị về xin phép bà cô.
+Tiếp đó là thất vọng và đau đớn: bà cô không cho thị Nở lấy Chí Phèo và thị Nở đã từ chối Chí nhưng hắn vẫn cố níu giử. Đau đớn và căm hận, Chí quyết giết chết thị và bà cô thị.
+ Cuối cùng là phẫn uất và tuyệt vọng: Chí về nhà uống rượu, ôm mặt khóc. Và rồi hắn xách dao đi đến nhà bá Kiến, đòi lương thiện. Hắn đã giết bá Kiến và tự sát.
- Kết luận:
+ Bi kịch của con người sinh ra là người mà không được làm người.
+ Sự cảm thông sâu sắc của Nam Cao với khát vọng lương thiện trong con người và sự bế tắc của những khát vọng trong hiện thực xã hội ấy.
Bài văn tham khảo:
Nam cao viết văn từ những năm 30 cuả thế kỉ XX nhưng đén năm 1941 ông mới khẳng định vị trí của mình trong nền văn học nước nhà bằng truyện ngắn Chí Phèo. Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc tràn đầy tinh thần nhân đạo, chuyên viết về hai đề tài: người trí thức nghèo sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ và người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa trước Cách mạng tháng Tám. Chí Phèo là kiệt tác của Nam Cao, thuộc đề tài người nông dân nghèo. Tác phẩm viết về tấm bi kịch của nhân vật Chí Phèo. Bi kịch của Chí Phèo gồm hai bi kịch nối tiếp nhau. Trước hết là bi kịch tha hóa từ một người lương thiện trở thành kẻ bất lương, thậm chí thành quỷ dữ. Tiếp nối là bi kịch bị từ chối làm người lương thiện. Đoạn mô tả từ buổi tối sau khi gặp thị Nở đến khi kết thúc cuộc đời thuộc bi kịch từ chối quyền làm người.
Chí Phèo nguyên là một đứa trẻ khốn khổ, bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ bỏ không. Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho nhà lí Kiến. Đây là một canh điền khỏe mạnh, nhưng hiền lành như đất, không những hiền lành anh ta còn nhút nhát, chính Bá Kiến khi đó là lí Kiến đã tận mắt chứng kiến cảnh Chí Phèo vừa bóp đùi cho bà Ba vừa run run. Anh ta cũng có những ước mơ rất giản dị và lương thiện như trăm ngàn người nông dân khác là có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua thì mua dăm ba sào ruộng làm. Ở một xã hội bình thường, những con người như thế hoàn toàn có thể sống một cách lương thiện và yên ổn. Nhưng chỉ vì ghen tuông vu vơ, bá Kiến đã nhẫn tâm đẩy người thanh niên hiền lành, chất phác ấy vào tù. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào, sau 7- 8 năm đã biến một nông dân hiền lành, khỏe mạnh, lương thiện và tự trọng thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Từ đây, Chí Phèo bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính. Chí Phèo đã bị cướp mất hình hài của con người: Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm… Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ… Không những thế tính cách Chí cũng khác hẳn khi xưa. Chí không còn là một anh canh điền ngày xưa mà bây giờ Chí là một thằng liều mạng. Hắn có thể làm tất cả mọi việc như một thằng đầu bò chính cống: kêu làng, rạch mặt ăn vạ, đập phá, đâm chém…
Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống kiếp thú vật, rồi sẽ kết thúc bằng cách vùi xác ở một bờ bụi nào đó nhưng bằng tài năng và nhất là bằng trái tim nhân đạo của một nhà văn lớn, Nam Cao đã để Chí Phèo trở về sống kiếp người một cách tự nhiên. Dưới ngòi bút sắc sảo của chủ nghĩa hiện thực, quá trình thức tỉnh lương tâm, nhân tính của một con người bị tha hóa, lầm lạc đã diễn ra không hề đơn giản, một chiều, dễ dãi mà do hoàn cảnh khá đặt biệt. Trong một lần say rượu không bình thường đã vô tình đưa Chí Phèo đến gặp thị Nở - một người đàn bà xấu xí và quá lứa lỡ thì. Lần say rượu đặc biệt ấy cùng với trận ốm thập tử nhất sinh đã khiến Chí Phèo có những biến đổi mạnh mẽ về cả tâm lí lẫn sinh lí. Thêm nữa, chút tình thương yêu mộc mạc, cử chỉ giản dị chân thành của thị Nở đã đốt cháy lên ngọn lửa lương tri còn sót lại nơi đáy sâu tâm hồn Chí, đánh thức bản chất lương thiện vốn có bên trong con người lầm lạc. Lúc đầu, thị chỉ hấp dẫn Chí vì đơn giản thị là đàn bà, còn Chí là thằng đàn ông say rượu. Hai người ân ái với nhau thế rồi nửa đêm Chí Phèo đau bụng nôn mửa. Thị Nở dìu Chí Phèo vào nhà và đi nhặt nhạnh tất cả những manh chiếu rách đắp cho hắn. Sáng hôm sau, Chí Phèo tỉnh dậy khitrời đã sáng từ lâu. Và kể từ khi mãn hạn tù trở về đây là lần đầu tiên con quỷ dữ của làng Vũ Đại hết say và hoàn toàn tỉnh táo. Chí thấy miệng đắng, chân tay uể oải và lòng mơ hồ buồn. Lâu lắm hắn mới cảm nhận cuộc sống đời thường với những cảnh sắc, âm thanh bình dị: tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài đuổi cá, tiếng chim hót…Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy, vì chỉ đến hôm nay hắn mới hoàn toàn tỉnh táo, các giác quan mới hoạt động bình thường. Những âm thanh ấy chính là tiếng gọi thiết tha của cuộc sống và đã lay động sâu xa tâm hồn Chí Phèo… Khi tỉnh táo, Chí Phèo nhìn lại cuộc đời của mình cả trong quá khứ, hiện tại, tương lai. Trước hết, hắn nhớ lại những ngày rất xa xôi hắn mơ ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua năm sào ruộng làm. Mơ ước của Hắn thật nhỏ bé và giản dị nhưng suốt ba năm qua nó vẫn chưa trở thành hiện thực. Thì ra, những ước mơ tốt đẹp của ChíPhèo không hề bị mất đi mà nó chỉ chìm sâu vào một góc tăm tối nào đó của tâm hồn Chí. Hiện tại của hắn thật đáng buồn. Buồn vì Chí Phèo thấy mình đã già đã sang cái dốc bên kia cuộc đời, có thể đã hư hỏng nhiều thế mà hắn vẫn đang cô độc. Tương lai của hắn lại đáng buồn hơn, bởi hắn có quá nhiều sự bất hạnh đói rét ốm đau và cô độc. Đối với Chí, cô độc còn đáng sợ hơn nhiều đói rét và ốm đau. Từ khi đi tù về, Chí bao giờ cũng say, say vô tận. Giờ đây lần đầu tiên hắn tỉnh táo suy nghĩ nhận thấy tình trạng bi đát, tuyệt vọng của cuộc đời mình.
Đúng lúc Chí đang vẩn vơ nghĩ mãi thì thị Nở mang một nồi cháo hành còn nóng nguyên vào. Việc làm này của thị Nở đã khiến Chí rất ngạc nhiên và xúc động đến mức trào nước mắt bởi vì đây là lần đầu tên trong đời hắn được một người đàn bà cho. Hắn thấy cháo hành của thị Nở không như bát cháo hành bình thường mà trong đó còn hàm chứa tình yêu thương chân thành của thị dành cho hắn. Và như vậy, cũng có nghĩa hàm chứa cả hạnh phúc lứa đôi mà lần đầu tiên Chí cảm nhận được. Còn đối với thị Nở, đây là bát cháo hành tình nguyện, bát cháo hành đem cho, đem tặng, bát cháo hành tình yêu, mở đầu cho hạnh phúc gia đình. Một mặt, bát cháo hành thể hiện tình cảm chan chứa nhân đạo của nhà văn. Mặt khác, nó cũng thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật của Nam Cao. Nếu như ban đầu, người đàn bà xấu xí, quá lứa lỡ thì, lại dở hơi ấy chỉ khơi lại cái bản năng ở Chí Phèo thì sau đó điều kì diệu đã xảy ra, sự săn sóc đầy ân tình và yêu thương mộc mạc của thị Nở đã làm thức dậy bản chất lương thiện tiềm ẩn trong con người Chí Phèo. Bát cháo hành của thị Nở là món quà quý giá nhất mà lần đầu tiên Chí cảm hận được trong đời mình. Hắn ăn và nhận thấy rằng cháo hành rất ngon. Hương vị cháo hành hay hưong vị của tình yêu thương chân thành cảm động, của hạnh phúc giản dị mà có thật , lần đầu tiên đến với Chí Phèo?
Khi ăn bát cháo hành, Chí Phèo trở lại là anh canh điền ngày xưa và thấm thía nỗi đau của con người biết tự trọng khi bị vợ Bá Kiến sai làm những việc nhục nhã. Điều này chứng tỏ một lần nữa Chí Phèo có bản tính tốt lành, nhưng cái bản tính này trước đây bị lấp đi đến nay mới có cơ hội được thể hiện, bởi vì Chí Phèo vốn là người nông dân lương thiện có bản tính tốt đẹp. Mặc dù bị xã hội tàn ác – đại diện là bá Kiến và nhà tù thực dân dẫu có ra sức hủy diệt bản tính ấy nhưng nó vẫn âm thầm sống trong đáy sâu tâm hồn Chí Phèo, ngay cả khi nhân vật này tưởng chừng đã biến thành quỷ dữ. Khi gặp thị Nở và cảm nhận được tình yêu mộc mạc chân thành của thị trong lúc yếu đuối và cô đơn, lại trong hoàn cảnh vừa qua một trận ốm thì bản chất ấy có cơ hội hồi sinh và nó đã hồi sinh. Từ đây, Chí sống đúng với con người thật của mình: khao khát tình thương và muốn trở thành những người lương thiện.
Con đường trở lại làm người lương thiện vừa mở ra trước mắt Chí Phèo đã bị đóng sầm lại. Sự mong ước được sống hiền lương của Chí Phèo một lần nữa lại không thành sự thật. Thị Nở không thể giúp gì thêm cho hắn, bởi lẽ bà cô thị kiên quyết ngăn cản mối tình này. Bà không thể đồng ý cho cháu bà đâm đầu đi lấy thằng Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại, bấy lâu nay chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ, hắn mãi mãi chỉ là con quỷ dữ, không bao giờ có thể làm người. Cách nhìn nhận của bà cô thị cũng chính là cách nhìn của mọi người làng Vũ Đại lâu nay đối với Chí. Tất cả quen coi anh là quỷ dữmất rồi. Nên hôm nay lương tri anh thức tỉnh, linh hồn người của anh đã trở về nhưng nào có ai nhận ra? Cho nên Chí Phèo thực sự rơi vào một bi kịch tinh thần vô cùng đau đớn – bi kịch bị cự tuyệt làm người lương thiện. Các hy vọng được sống với thị Nở, sâu xa hơn là hy vọng được quay về với cuộc đời lương thiện như một đóm lửa vừa mới được nhóm lên thì đã bị ngay một gáo nước lạnh dội vào cho tắt ngấm. Mặc dù, khi nghe những lời bà cô mắng thì thị Nở thấy lộn rột nhưng cũng phải nghe theo. Và thị đã giận dữ nói lại với Chí Phèo tất cả những lời của bà cô. Điều này khiến Chí ngẩn người vì thất vọng nhưng nhưng này có lẽ hắn chưa tuyệt vọng vì lúc đó hắn lại như hít thấy hơi cháo hành. Chí ngẩn người ra vì cay đắng, chua xót trước một sự thật phũ phàng: mọi người đã cự tuyệt, không chấp nhận, dứt khoát không con hắn là một con người. Mùi cháo hành vẫn thoang thoảng đâu đây khiến hắn lại càng thêm đau xót, thấm thía. Hắn thấy rõ mọi con đường đều đang đóng chặt trước mặt hắn. Khi thị ra về, hắn đuổi theo thị, nắm lấy tay nhưng thị gạt ra. Điều đó chứng tỏ Chí luôn luôn khao khát tình yêu, thiết tha đến với thị Nở, đến với cuộc đời lương thiện. Từ đây, Chí đã thấm thía sâu sắc bi kịch của con người sinh ra làm người nhưng không được làm người. Chí vật vả, đau đớn và tuyệt vọng. Thật là lạ khi thấy Chí ôm mặt khóc rưng rức. Những giọt nước mắt đau đớn, hối hận nhưng đã quá muộn màng. Không còn cách nào khác, Chí lại tìm đến rượu. Nhưng vì ý thức đã trở về, lần uống rượu này của Chí khác biết bao nhiêu lần uống rượu trước. Hắn càng uống lại càng tỉnh ra, hắn không ngửi thấy mùi rượu mà chỉ nghe thoang thoảng mùi cháo hành, càng uống càng thấm thía nỗi đau vô hạn của thân phận.
Trong cơn khủng hoảng và bế tắc, Chí Phèo lại càng thấm thía hơn tội ác của kẻ đã cướp đi của mình cả bộ mặt và linh hồn con người. Chí đã xách dao ra đi. Hành động muốn đi trả thù của Chí rất dữ dội, quyêt liệt khiến Chí đi đén một hành động đâm chết cả nhà nó. Nhưng là ai? Tiềm thức mách bảo Chí đó là bá Kiến. Trước đó, Chí không định đến nhà bá Kiến mà định đến nhà thị Nở để đâm chết thị và bà cô thị cho hả giận nhưng cuối cùng Chí lại quên đến nhà thị Nở mà đến nhà bá Kiến. Khi đến nhà bá kiến, Chí trợn mắt chỉ tay vào mặt lão, đanh thép kết tội tên cáo già này đòi làm người lương thiện,đòi một bộ mặt lành lặn. Câu hỏi cuối cùng của Chí Phèo: Ai cho tao lương thiện? là câu hỏi chất chứa niềm phẫn uất, đau đớn, còn làn day dứt người đọc: làm thế nào để con người sống cuộc sống con người trong cái xã hội tàn bạo, ngột ngạt , vùi dập nhân tính ấy? Thế rồi, Chí đâm chết kẻ thù. Hành động của Chí đã vượt khỏi suy nghĩ của tên địa chủ nổi tiếng khôn ngoan, gian hùng. Đây là cách hành động của người say không theo dự kiến ban đầu, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, Chí lờ mờ hiểu ra nguyên nhân sâu xa đâu phải vì thị Nở hay bà cô thị mà cái kẻ làm ra Chí như thế này chính là bá Kiến. Đến đòi quyền làm người lương thiện là phải đòi nơi lão bá, không đòi dược thì phải trả thù. Tuy làm tay sai cho bá Kiến nhưng ngọn lửa căm hờn vẫn âm ỉ cháy trong con người Chí Phèo. Khi Chí Phèo đã thức tỉnh thì hắn hiểu ra nguồn gốc bi kịch của mình nên ngọn lửa căm hờn càng bùng lên dữ dội. Do vây, Chí Phèo đâm chết bá Kiến không hẳn vì say rượu mà chính vì mối thù đã bừng cháy. Cái chết của Chí chứng tỏ Chí khao khát trở về cuộc sống lương thiện. Vì vậy cái chết của Chí Phèo có ý nghĩa tố cáo mạnh mẽ cái xã hội thực dân nửa phong kiến không những đẩy người dân lương thiện vào con đường bần cùng hóa, lưu manh hóa mà còn đẩy họ vào cái chết.
Với nhân vật Chí phèo, Nam Cao đã đặt ra bi kịch của người nông dân trước cách mạng: đó là bi kịch con người sinh ra là người mà không được làm người. Đồng thời qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã hai lần tố cáo cái xã hội thực dân phong kiến: xã hội đó cướp đi những gì Chí Phèo có và đã cướp những gì Chí Phèo muốn. Điều này thể hiện sự cảm thông sâu sắc của Nam Cao với khát vọng lương thiện trong con người và sự bế tắc của những khát vọng trong hiện thực xã hội ấy. Ngoài ra, tác phẩm còn đặt ra một vấn đề nhân sinh mang tính triết lí sâu sắc: làm thế nào để con người sống đúng nghĩa là người trong cái xã hội tàn bạo phi nhân tính đương thời. Với thành công của truyện ngắn này, Nam cao đã trở thành cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiên thực 1930 – 1945.
(Theo sách 45 đề thi đại học Ngữ văn – NXB ĐH Quốc gia TP HCM – TS Lê Anh Xuân chủ biên)

Câu 3b.
Những ý cần đạt

Giới thiệu về tác giả, thi phẩm
Đặc điểm thơ Thanh Thảo
Khái quát đoạn thơ được trích
+ Hình ảnh Lor-ca là bất diệt
+ Tiếng đàn đấu tranh cho nghệ thuật, cho tự do vẫn không thể chết.
+ Sự bất tử, sức sống của tiếng đàn
+ Hình tượng thơ siêu thực, đa nghĩa, nhưng bắt nguồn từ một sự việc thực về cuộc đời của Lor-ca.
Bài làm tham khảo
Bài thơ “Đàn ghi ta của Lor -ca” là thi phẩm đặc sắc mới mẻ của Thanh Thảo – một nhà thơ ham cách tân thơ những năm sau chiến tranh chống Mĩ cứu nước, để góp phần đổi mới thơ theo hướng hiện đại hoá. Thanh Thảo đã mượn hình ảnh cây đàn, đúng hơn là tiếng đàn để diễn tả nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của người nghệ sĩ Tây Ban Nha – một nghệ sĩ Lor -ca tài hoa đã dùng thơ và nhạc, say mê mải miết, tình nguyện làm một người nghệ sĩ du ca, cất lên tiếng đàn tranh đấu cho tự do của tổ quốc Tây Ban Nha và cho nghệ thuật.
Lor-ca là bất diệt. Cảm động về vẻ đẹp bất tử của người nghệ sĩ Tây Ban Nha tài hoa, Thanh Thảo đã viết nên bài thơ thật cảm động trong đó có khổ thơ:
Không ai chôn cất tiếng đàn
…………
Long lanh trong đáy giếng.

Câu thơ đầu tiên “Không ai chôn cất tiếng đàn” ý thơ cất lên từ câu thơ nổi tiếng của Lor -ca “ Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi -ta” để nói với chúng ta Lor -ca đã chết, nhưng tiếng đàn đấu tranh cho nghệ thuật, cho tự do vẫn không thể chết, không thể tắt, tiếng đàn Lor -ca vẫn âm vang trong lòng nhân loại, trong lòng tổ quốc Tây Ban Nha yêu quí của anh.
Tiếng đàn ấy, cuộc đời ấy vẫn mang một sức sống mãnh liệt không gì có thể tiêu diệt được “tiếng đàn như cỏ mọc hoang. “Cỏ mọc hoang” là một hình ảnh ẩn dụ, làm ta nhớ đến hình ảnh cỏ và giọt sương bé nhỏ, lặng thầm mà vô cùng kì diệu trong bài thơ “Bùng nổ của mùa Xuân” của tác giả:
“Những giọt sương lăn vào cỏ
Qua nắng gắt, qua bão tố
Vẫn giữ lại cái mát lành đầy sức mạnh
Vẫn giữ long lanh bình thản trước vầng dương”

Câu thơ còn làm ta liên tưởng tới câu nói của người anh hùng chống Pháp Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ người Pháp nhổ được hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Việt Nam chống Pháp”. Câu thơ “tiếng đàn như cỏ mọc hoang” mộc mạc, bình dị mà kì diệu đến vô cùng.
Hình ảnh trong hai câu thơ cuối là một hình tượng thơ siêu thực, đa nghĩa, bắt nguồn từ một sự việc thực: Kẻ thù sau khi bắn nhà thơ đã vứt xác anh xuống giếng để phi tang. Nếu sử dụng bút pháp hiện thực thì mới chỉ nói lên một sự thực tàn bạo đê hèn của lũ phát xít và những đau thương của người nghệ sĩ Lor -ca, nhưng với bút pháp siêu thực Thanh Thảo đã nói được nhiều hơn: Tình thương, sụ cao khiết, sự tỏa sáng của tinh thần Lor -ca. “Nước mắt vầng trăng” là nước mắt thương tiếc vầng trăng (hình ảnh ẩn dụ chỉ Lor -ca), cũng còn có thể là nước mắt sáng đẹp và vĩnh cửu như vầng trăng, những giọt nước mắt anh hùng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến ý thơ trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Guộc” của Nguyễn Đình Chiểu: “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo”.
Vầng trăng là sự hoá thân, sự thăng hoa của tâm hồn Lor -ca. Giếng nước là nơi kẻ thù vứt xác anh, lại là nơi toả sáng tâm hồn anh như vầng trăng soi vào sự dập vùi tàn ác của kẻ thù lại chuyển hoá thành sự thăng hoa toả sáng, sự thê thảm chuyển hoá thành sự tôn vinh ngợi ca.
Là một bài thơ đặc sắc, vừa nồng nàn cảm xúc vừa sâu sắc về triết lí đã ca ngợi được vẻ đẹp anh hùng bất tử của người nghệ sĩ . Tiếng đàn bất diệt của Lor -ca còn mãi âm vang cổ vũ sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Tây Ban Nha, của nhân loại. Thanh Thảo đắm chìm trong dòng cảm xúc về tiếng đàn, về thơ ca Lor -ca, về nền văn hoá Tây Ban Nha
 
Top